VIÊM QUY ĐẦU

VIÊM QUY ĐẦU

                                                                             TS.BS. LÊ NGỌC HẢI

Viêm quy đầu là tình trạng viêm nhiễm phổ biến ở nam giới có hẹp bao quy đầu hoặc dài bao quy đầu. Đây là tình trạng da bao quy đầu dài – hẹp làm nước tiểu chảy ngược và lắng đọng quanh hãm quy đầu, kèm theo tình trạng viêm gây ngứa và có thể bội nhiễm nấm hoặc vi khuẩn càng làm nặng nề thêm tình trạng viêm quang quy đầu.

Trong nghiên cứu của Morris B.L và Krieger J.N [1] nhận thấy rằng nam giới đã cắt bao quy đầu có tỷ lệ viêm quy đầu thấp hơn 68% so với nam giới chưa cắt bao quy đầu, các viêm nhiễm kèm theo với nguy cơ ung thư “chim” tăng gấp 3,8 lần. Đặc biệt nguy cơ viêm nhiễm tăng cao trong các trường hợp bệnh nhân bị tiểu đường hoặc suy giảm miễn dịch.

Các biểu hiện tổn thương viêm “chim” bao gồm viêm quy đầu – viêm bao quy đầu – các tổn thưng loét do nhiễm khuẩn trong đó đặc biệt là các tổn thương do giang mai gây ra hiện tượng loét niêm mạc bao quy đầu, thân “chim” và có thể loét cả mũ quy đầu. Việc viêm loét dẫn tới hẹp bao quy đầu, bao quy đầu không lộn xuống được; thậm chí gây chảy máu, đau rát quy đầu, mất cảm giác khi quan hệ, tăng nguy cơ lây nhiễm các bệnh tình dục đặc biết là nguy cơ nhiễm HIV – Giang mai – HPV tăng cao.

Viêm bao quy đầu sảy ra ở mọi lứa tuổi, do đó từ giá trị bằng chứng trên lâm sàng, nhiều tác giả đã khuyến cáo nên cắt bao quy đầu để tránh viêm quy đầu.

1.     Nguyên nhân gây viêm quy đầu

  • Việc Dài – hẹp bao quy đầu gây lắng đọng chất căn bẩn làm viêm ngứa, nhiễm vi khuẩn – vi rút mà nguyên do làm vệ sinh kém. Do thiếu kinh nghiệm và kỹ năng trong chăm sóc vùng quy đầu khi bao quy đầu dài – hẹp che phủ kín quy đầu nên các chất bẩn ức động, đặc biệt là nước tiểu chảy người khi tiểu làm cột nước tiểu va vào bao quy đầu dài chảy ngược vào quanh gờ bao quy đầu, hãm quy đầu gây ra hiện tương viêm nhiễm, bội nhiễm hoặc ngứa và loét.
  • Nguyên nhân cụ thể khi xác nhận yếu tố gây bệnh tìm được gồm: Nhiễm nấm men là nguyên nhân hay gặp nhất; Nhiễm Herpes simplex, HPV; Giang mai; Chlamydia; Lậu; Viêm da tiếp xúc.
  • Nhiễm Herpes simplex, HPV: đây là tác nhân hàng đầu gây loét vùng sinh dục. Các dịch viêm không được xử lý tốt dẫn tới bội nhiễm vi khuẩn khác ở đường sinh dục làm tình trạng bệnh ngày càng nặng nề hơn.
  • Giang mai: tổn thương giang mai thể viêm loét là rất phức tạp, điều trị bằng thuốc thông thường không thể khỏi nếu không được các bác sĩ chuyên sâu và có kinh nghiệm xử trí điều trị.
  • Chlamydia: thường xuất hiện do bội nhiễm mà gây bệnh.
  • Viêm da tiếp xúc: rất nhiều quý ông tư dùng các thuốc lá để đắp vào vùng quy đầu, ngâm quy đầu làm viêm da tiếp xúc, bóng da, hay loét da và niêm mạc vùng quy đầu. Trong đó phải kể đến các thuốc bôi tẩy nốt mụn nhọt vùng sinh dục. Nhiều người không có chuyên môn về giải phẫu “chim” đã xác định gai sinh dục là sùi mào gà, sau dó tư vấn cho bệnh nhân bôi thuốc tẩy gai; hậu quả là loét sinh dục. Không ngâm nước lá “Trầu Không” vì gây bỏng da vùng sinh dục rất lớn.

Bên cạnh do tâm lý sợ hãi, xấu hổ không dám đi khám, không chia sẻ dẫn đến viêm tái diễn nhiều lần và xơ chai bao quy đầu gây hẹp bao quy đầu nên không lộn xướng được. Đây được gọi là hẹp bao quy đầu thứ phát.

Một nghiêm cứu của Ladenhauf H.N., và cộng sự [2] chỉ ra rằng có tới 25% trẻ trai dưới 5 tuổi hẹp bao quy đầu bị viêm bao quy đầu so với trẻ không hẹp bao quy đầu chỉ có 6% bị viêm bao quy đầu.

Đối với người trưởng thành, sau nhiều lần viêm bao quy đầu tự khỏi nhưng xuất hiện hiện tượng xơ hoá mô liên kết làm mô liên kết dày lên và sẹo hoá dẫn tới tình trạng co hẹp bao quy đầu và dẫn tới tình trạng không lộn da quy đầu xuống được nữa. Các nghiêm cứu của Hunggary có tới 62% nam giới cắt bao quy đầu do hẹp [3]

2.     Điều trị viêm quy đầu

  • Điều trị nội khoa

Đối với các trường hợp đang viêm tấy cần phải điều trị nội khoa khỏi cho an toàn. Thường dùng kháng sinh đường uống và vệ sinh vùng quy đầu bằng các thuốc sát khuẩn, kết hợp vitamin để nâng cao sức đề kháng của cơ thể.

Ở trẻ nhỏ nên kết hợp thuốc bôi tại chổ kèm mỡ corticoid để vừa điều trị nhiễm khuẩn vừa làm bao quy đầu mềm mại hơn.

  • Phẫu thuật

Đối với các trường hợp viêm nhiều lầm tái phát, điều kiện vệ sinh không tốt thì việc cắt bao quy đầu là cách tốt nhất để dự phòng viêm quy đầu – bao quy đầu.

Cắt bao quy đầu sau khi đã điều trị khỏi tình trạng viêm loét là cách xử trí triệt để nhất các nguy cơ lắng đọng vùng quy đầu do dài bao quy đầu gây ra.

Cắt bao quy đầu công nghệ là lựa chọn tốt nhất sau khi hết viêm bao quy đầu – quy đầu. Tuy nhiên một phẫu thuật viên chuyên sâu thì khi cắt không gây thiếu da “chim” sau cắt, bảo đảm chiều dài “chim” tương đối cơ sở nhất. Các Thầy Ngoại khoa Việt Nam thường có câu “ Niêm mạc tối đa – Da tối thiểu”.

Nhiều phẫu thuật viên cắt bao quy đầu chưa có kinh nghiệm nên đã cắt quá nhiều da, để phần niêm mạc nhiều dẫ đến tình trạng 2 màu sắc da trên “chim” sau cắt rõ rệt, rất mất thẫm mỹ. Tại Phòng khám Hải Ngoại – ứng dụng cắt bao quy đầu công nghệ đã đi vào quy chuẩn thường quy, đơn giản, không đau – không chảy máu và có thể tự đi về sau phẫu thuật.

Như vậy việc cắt bao quy đầu là chỉ định tốt nhất cho việc dự phòng viêm quy đầu – bao quy đầu cho nam giới.

P/S: Cảm ơn chàng trai của tôi đã đến từ Đông Sơn lựa chọn cắt BQĐ công nghệ stapler cùng TS.BS. Lê Ngọc Hải (Chàng trai chuẩn bị xuất ngoại nên đã cắt bao quy đầu để an toàn nhất khi xa xứ).

Hãy gọi để được chăm sóc và phục vụ chu đáo

ĐT: 0394 215 198

Zalo: 0916 09 1900

Phòng khám đa khoa Hải Ngoại

Đ/C: Đường Thanh Niên, Quảng Đức, Quảng Xương, Thanh Hóa, Việt Nam

Sơ đồ đường đi – PHÒNG KHÁM ĐA KHOA HẢI NGOẠI (phongkhamdakhoahaingoai.com)

        

References

[1] Morris B.J and Krieger J.N, “Penile Inflammatory Skin Disorders and the Preventive Role of Circumcision,” Int J Prev Med., vol. 8, p. 32, 2017.
[2] Ladenhauf H.N., Ardelean M.A., Schimke C., et al, “Reduced bacterial colonisation of the glans penis after male circumcision in children – A prospective study,” J Pediatr Urol, vol. 9, no. 6, p. 1137–44, 2013.
[3] Nyirády P., Borka K., Bánfi G., et al, “Lichen sclerosus in urological practice,” Orv Hetil, vol. 147, pp. 2125-9, 2006.